Vốn được xem là "mạch máu" của nền kinh tế và doanh nghiệp. Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, nhu cầu vốn trung và dài hạn của Việt Nam đang gia tăng mạnh mẽ.
Theo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, quy mô vốn hóa thị trường chứng khoán cuối năm 2025 ước đạt khoảng 7,5 triệu tỷ đồng, tương đương 74% GDP, trong khi dư nợ thị trường trái phiếu đạt khoảng 3,3 triệu tỷ đồng.
Cùng với đó, dòng vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục tăng mạnh. Chỉ trong 10 năm, vốn FDI giải ngân hằng năm đã tăng gần 88%, từ khoảng 14,5 tỷ USD năm 2015 lên khoảng 27 tỷ USD năm 2025.
Dòng vốn quốc tế hiện không còn xem Việt Nam chỉ là thị trường gia công chi phí thấp, mà đang coi đây là trung tâm tăng trưởng chiến lược của khu vực trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu tiếp tục tái cấu trúc.
Thị trường Việt Nam không thể phát triển mạnh nếu thiếu nguồn lực tài chính, doanh thu từ xuất khẩu, ngoại thương và nguồn vốn đầu tư quốc tế.

TS. Hoàng Hồ Quang (James Invest).
Trong thời gian qua, hàng loạt dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia như Cao tốc Bắc – Nam, Sân bay Long Thành, các tuyến đường Vành đai, Cảng biển, Trung tâm logistics và Các Khu công nghiệp mới đã được triển khai mạnh mẽ trên cả nước.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 2 con số, các ngành kinh tế chủ lực - hiện đóng góp khoảng 70-80% GDP sẽ cần duy trì tốc độ tăng trưởng khoảng 15-25% mỗi năm trong thời gian tới.
Nếu muốn GDP tăng trưởng ở mức 10%/năm, quy mô nền kinh tế Việt Nam có thể tăng thêm khoảng 50-60 tỷ USD giá trị mới mỗi năm. Điều này đòi hỏi lượng vốn đầu tư trung và dài hạn rất lớn cho hạ tầng, sản xuất, logistics, công nghệ và thị trường tài chính.
Đơn cử như, theo nhiều tổ chức quốc tế, nếu được nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp, Việt Nam có thể thu hút thêm từ 3-6 tỷ USD dòng vốn đầu tư gián tiếp quốc tế trong thời gian tới.

Để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 2 con số, các ngành kinh tế chủ lực - hiện đóng góp khoảng 70-80% GDP sẽ cần duy trì tốc độ tăng trưởng khoảng 15-25% mỗi năm trong thời gian tới (Ảnh: Hữu Thắng).
Tuy nhiên, song song với cơ hội sẽ là nhiều thách thức lớn hơn có thể kể đến như: Năng lực sản xuất, công nghệ và chất lượng sản phẩm; Khả năng cung ứng đúng tiến độ; Các vụ kiện chống bán phá giá và cạnh tranh thương mại; Tiêu chuẩn quốc tế ngày càng khắt khe hơn; Áp lực về môi trường, ESG và phát triển bền vững.
Dù vậy, mục tiêu tăng trưởng 2 con số của Việt Nam là hoàn toàn khả thi nếu có sự đồng hành mạnh mẽ giữa Chính phủ, doanh nghiệp và thị trường vốn.
Để phát triển mạnh thị trường vốn, cần đẩy nhanh hoàn thiện Luật Chứng khoán và các văn bản hướng dẫn; đẩy nhanh tiến trình đáp ứng tiêu chí nâng hạng FTSE Russell; tăng cường cơ chế sandbox cho các Trung tâm Tài chính Quốc tế (IFC); Ban hành hướng dẫn rõ ràng hơn cho các sản phẩm hợp tác đầu tư với nhà đầu tư nước ngoài…
Trong kỷ nguyên cạnh tranh toàn cầu mới, dòng vốn sẽ không chỉ tìm đến nơi có chi phí thấp, mà sẽ tìm đến những quốc gia có sự ổn định, minh bạch, năng lực thực thi và khát vọng phát triển đủ lớn. Việt Nam đang hội tụ ngày càng nhiều các yếu tố đó và đang đứng trước cơ hội trở thành một trong những nền kinh tế mới nổi hấp dẫn nhất khu vực trong thập kỷ tới.
TS. Hoàng Hồ Quang (James Invest)