Tránh hiểu cứng nhắc về tài sản phải đấu giá
Chiều 10/6, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh chủ trì cuộc họp Hội đồng thẩm định hồ sơ dự án Luật Đấu giá tài sản (ĐGTS) (sửa đổi).
Sau khi nghe cơ quan chủ trì soạn thảo báo cáo và thảo luận, Hội đồng thẩm định thống nhất cao về sự cần thiết ban hành Luật ĐGTS (sửa đổi).
Các đại biểu cho rằng việc sửa luật không chỉ nhằm hoàn thiện thể chế kinh tế mà còn tạo công cụ pháp lý quan trọng để phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong quản lý, sử dụng và xử lý tài sản, nhất là tài sản công, quyền sử dụng đất, quyền khai thác khoáng sản và các tài sản có giá trị lớn.
Một nội dung được nhiều đại biểu quan tâm là quy định về tài sản đưa ra đấu giá. Đại diện Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) cơ bản đồng tình với mục tiêu hệ thống hóa các nhóm tài sản thuộc diện đấu giá trong dự thảo luật.

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh chủ trì cuộc họp.
Tuy nhiên, VAMC cùng một số bộ, ngành như Bộ Công Thương, Bộ Tài chính và Bộ Khoa học và Công nghệ cho rằng hiện nay hầu hết các loại tài sản phải đấu giá đã được quy định trong các luật chuyên ngành. Các luật này không chỉ xác định loại tài sản nào phải đấu giá mà còn quy định cụ thể điều kiện, thời điểm và phương thức xử lý tài sản.
Theo các ý kiến này, nếu Luật ĐGTS tiếp tục liệt kê các nhóm tài sản và dùng từ ngữ mang tính bắt buộc như "phải" thì có thể dẫn đến cách hiểu khác nhau khi áp dụng. Trong thực tiễn, cơ quan thực thi, thanh tra hoặc kiểm tra thường hiểu theo câu chữ của luật, dễ phát sinh quan điểm rằng mọi tài sản được liệt kê đều bắt buộc đấu giá trong mọi trường hợp.
Điều này có thể gây khó khăn cho một số lĩnh vực đặc thù như quốc phòng, ngân hàng hoặc xử lý nợ xấu. Riêng với xử lý nợ xấu, đấu giá chỉ là một trong nhiều phương thức xử lý tài sản bảo đảm và việc lựa chọn phương thức phụ thuộc vào điều kiện cụ thể cũng như quy định của pháp luật chuyên ngành.
VAMC đề nghị chỉnh sửa theo hướng bỏ từ "phải", chỉ quy định theo nguyên tắc "đối với các tài sản mà pháp luật quy định thực hiện đấu giá". Theo đại diện doanh nghiệp này, cách quy định như vậy vừa bảo đảm thống nhất với luật chuyên ngành, vừa tránh phát sinh cách hiểu cứng nhắc.
Về vấn đề trên, Thứ trưởng Đặng Hoàng Oanh nhấn mạnh cần tiếp tục quán triệt quan điểm của Bộ Tư pháp về vị trí và bản chất của Luật ĐGTS. Theo đó, đây là đạo luật mang tính chất hình thức, quy định thống nhất về trình tự, thủ tục đấu giá trước, trong và sau khi tổ chức đấu giá.
Việc xác định loại tài sản nào phải đấu giá, cơ quan nào có thẩm quyền quyết định đấu giá, phê duyệt phương án đấu giá, xác định giá khởi điểm hay các điều kiện chuyên ngành khác phải do luật chuyên ngành điều chỉnh.
Siết mạnh chế tài đối với hành vi bỏ cọc
Về tình trạng "bỏ cọc" sau đấu giá là vấn đề xã hội đặc biệt quan tâm thời gian qua. Thứ trưởng cho biết dự thảo đã đưa ra nhiều giải pháp mạnh.
Cụ thể, dự thảo nâng mức tiền đặt trước đối với đấu giá quyền sử dụng đất giao cho cá nhân từ mức tối thiểu hiện hành lên tối đa 50% giá khởi điểm; đồng thời bổ sung chế tài cấm tham gia đấu giá từ 6 tháng đến 5 năm đối với trường hợp vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền trúng đấu giá.
Tuy vậy, Thứ trưởng lưu ý cần tiếp tục làm rõ điều kiện bảo đảm thi hành chế tài cấm tham gia đấu giá. Muốn quy định này hiệu quả phải có hệ thống cơ sở dữ liệu đủ mạnh, kết nối giữa dữ liệu đấu giá với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các hệ thống dữ liệu liên quan.
"Nếu không có công cụ kiểm soát hiệu quả thì rất khó ngăn chặn tình trạng người bị cấm tham gia đấu giá ở địa phương này nhưng lại nhờ người khác đứng tên hoặc tham gia ở địa phương khác", Thứ trưởng nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, bà đề nghị tiếp tục nghiên cứu các giải pháp hữu hiệu hơn để xử lý tình trạng "quân xanh, quân đỏ", thông đồng dìm giá trong đấu giá tài sản.
Thứ trưởng cũng đề nghị cơ quan soạn thảo tham khảo kinh nghiệm quốc tế trong xử lý hành vi bỏ cọc sau đấu giá. Theo đó, nhiều quốc gia như Anh, Australia, Singapore hay Trung Quốc áp dụng chế tài tài chính rất nghiêm khắc, buộc người vi phạm phải bồi thường phần chênh lệch nếu cuộc đấu giá tổ chức lại có kết quả thấp hơn mức giá đã trúng trước đó.
Những kinh nghiệm này cần được nghiên cứu kỹ để xem xét khả năng vận dụng phù hợp với hệ thống pháp luật dân sự của Việt Nam, qua đó tăng tính răn đe và nâng cao hiệu quả của hoạt động đấu giá tài sản.